Sinh khối và trữ lượng các-bon của một số trạng thái rừng tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.8.2026.026-034Từ khóa:
Các-bon rừng, Quảng Ninh, rừng tự nhiên, sinh khối trên mặt đất, trữ lượng các-bonTóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh nhằm đánh giá sinh khối trên mặt đất (Aboveground Biomass - AGB), trữ lượng các-bon của các trạng thái rừng tự nhiên và so sánh kết quả ước tính giữa các phương trình sinh khối. Dữ liệu được thu thập từ 41 ô tiêu chuẩn 1.000 m², trong đó đo đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao và thành phần loài của tất cả cây gỗ có D1.3 ≥ 6 cm. Sinh khối được tính theo ba phương trình gồm AGB1 (Quyết định số 145/QĐ-KL-CĐS, 2024), AGB2 và AGB3 (Vũ Tiến Hưng, 2015). Kết quả cho thấy sinh khối trên mặt đất và trữ lượng các-bon đều tăng dần từ trạng thái rừng nghèo kiệt đến rừng giàu. Cả ba phương trình đều phản ánh nhất quán xu thế này; trong đó AGB2 cho giá trị sinh khối cao nhất, tiếp theo là AGB3 và AGB1. Theo AGB1, sinh khối trung bình đạt 26,392; 61,979; 96,072 và 187,256 t ha⁻¹, tương ứng với trữ lượng các-bon là 16,994; 39,908; 61,861 và 120,574 t C ha⁻¹. Kiểm định Friedman cho thấy sự khác biệt giữa ba phương trình có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05), mặc dù mức chênh lệch không lớn và xu thế biến động giữa các trạng thái rừng được phản ánh nhất quán.
Tài liệu tham khảo
[1]. Chave J., Réjou-Méchain M., Búrquez A., Chidumayo E., Colgan M. S., Delitti W. B. C., Duque A., Eid T., Fearnside P. M., Goodman R. C., Henry M., Martínez-Yrizar A., Mugasha W. A., Muller-Landau H. C., Mencuccini M., Nelson B. W., Ngomanda A., Nogueira E. M., Ortiz-Malavassi E., Pélissier R., Ploton P., Ryan C. M., Saldarriaga J. G. & Vieilledent G. (2014). Improved allometric models to estimate the aboveground biomass of tropical trees. Global Change Biology. 20(10): 3177–3190.
[2]. Pan Y., Birdsey R. A., Fang J., Houghton R., Kauppi P. E., Kurz W. A., Phillips O. L., Shvidenko A., Lewis S. L., Canadell J. G., Ciais P., Jackson R. B., Pacala S. W., McGuire A. D., Piao S., Rautiainen A., Sitch S. & Hayes D. (2011). A large and persistent carbon sink in the world’s forests. Science. 333(6045): 988–993.
[3]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2024). Quyết định số 145/QĐ-KL-CĐS ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc ban hành "Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật điều tra rừng".
[4]. Vũ Tiến Hưng (2015). Xây dựng cơ sở khoa học cho điều tra sinh khối và carbon cây đứng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ. Trường Đại học Lâm nghiệp.
[5]. Nam V. T., Van Kuijk M. & Anten N. P. R. (2016). Allometric equations for aboveground and belowground biomass estimations in an evergreen forest in Vietnam. PLoS ONE. 11(6): 1 - 19.
[6]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2023). Thông tư số 16/2023/TT-BNNPTNT ngày 15 tháng 12 năm 2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng.
[7]. Fittkau E. J. & Klinge H. (1973). On biomass and trophic structure of the central Amazonian rain forest ecosystem. Biotropica. 5(1): 2-14.
[8]. Quốc Minh Dũng, Nguyễn Thị Hương Ly, Lê Anh Thanh & Nguyễn Văn Quý (2023). Cấu trúc, đa dạng loài và sinh khối trên mặt đất của rừng lá rộng thường xanh ở Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp. 12(6): 27-35.
[9]. Bùi Thị Vân, Vũ Tiến Hưng, Cao Thị Thu Hiền, Phạm Thế Anh, Phạm Văn Duẩn & Phạm Gia Thanh (2026). Sinh khối và trữ lượng các-bon một số trạng thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp. 15(4): 58–68.
DOI: 10.55250/jo.vnuf.15.4.2026.058-068






