Sinh khối và trữ lượng các-bon một số trạng thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.4.2026.058-068Từ khóa:
các-bon, CO₂, núi đá vôi, rừng tự nhiên, sinh khối, Vân LongTóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định sinh khối và trữ lượng các-bon (C) của một số trạng thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình. Tổng cộng 90 ô tiêu chuẩn được lập và phân chia theo trữ lượng thành bốn trạng thái rừng: trung bình (TXDB), nghèo (TXDN), nghèo kiệt (TXDK) và chưa có trữ lượng (TXDP). Sinh khối được tính toán theo phương trình allometric phù hợp với rừng nhiệt đới trên núi đá vôi; trữ lượng các-bon xác định theo hệ số chuyển đổi 0,47. Kết quả cho thấy sinh khối trung bình dao động từ 7,1–165,4 tấn/ha và trữ lượng các-bon tương ứng 3,3–77,7 tấn C/ha. Trong đó, trạng thái TXDB có sinh khối và khả năng tích lũy các-bon cao nhất, thấp nhất là TXDP. Tầng cây gỗ đóng góp phần lớn (chiếm 70–90%) tổng lượng CO₂ toàn lâm phần, minh chứng cho vai trò trung tâm của cây gỗ lớn trong việc cô lập các-bon. Khả năng hấp thụ CO₂ thể hiện xu thế giảm rõ rệt theo thứ tự TXDB → TXDN → TXDK → TXDP; là xu thế hoàn toàn phù hợp với cấu trúc lâm phần quan sát. Điều này phản ánh và cho thấy cấu trúc rừng là yếu tố quyết định trực tiếp đến mức độ hấp thụ CO₂ trong khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu định lượng phục vụ quản lý rừng bền vững, tính toán tín chỉ các-bon và xây dựng các giải pháp phục hồi rừng núi đá vôi tại Vân Long.
Kết quả cho thấy sinh khối trung bình dao động từ 7,1–165,4 tấn/ha và trữ lượng carbon tương ứng 3,3–77,7 tấn C/ha. Trong đó, trạng thái TXB có sinh khối và khả năng tích lũy carbon cao nhất, thấp nhất là TXP. Tầng cây gỗ đóng góp phần lớn (chiếm 70–90%) tổng lượng CO₂ toàn lâm phần, minh chứng cho vai trò trung tâm của cây gỗ lớn trong việc cô lập carbon. Khả năng hấp thụ CO₂ thể hiện xu thế giảm rõ rệt theo thứ tự TXB → TXN → TXK → TXP; là xu thế hoàn toàn phù hợp với cấu trúc lâm phần quan sát. Điều này phản ánh và cho thấy cấu trúc rừng là yếu tố quyết định trực tiếp đến mức độ hấp thụ CO₂ trong khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu định lượng phục vụ quản lý rừng bền vững, tính toán tín chỉ carbon và xây dựng các giải pháp phục hồi rừng núi đá vôi tại Vân Long.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bảo Huy, Võ Hùng, Nguyễn Thị Thanh Hương & Cao Thị Lý (2014). Sinh khối và các-bon của rừng lá rộng thường xanh vùng Tây Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 1-2: 195-202.
[2]. Phạm Thu Thủy, Tăng Thị Kim Hồng & Nguyễn Chiến Cường (2022). Thị trường các-bon rừng tại Việt Nam: Cơ sở pháp lý, cơ hội và thách thức. CIFOR, Báo cáo số 237: 1-34. DOI: 10.17528/cifor/008797.
[3]. Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) (2019). Refinement to the 2006 IPCC Guidelines for National GHG Inventories. Volume 4: Agriculture, Forestry and Other Land Use (AFOLU). IPCC.
[4]. Nguyễn Viết Lương, Tô Trọng Tú, Trình Xuân Hồng, Lê Trần Chấn, Tống Phúc Tấn & Nguyễn Hữu Tứ (2018). Tiềm năng hấp thụ CO₂ của một số kiểu rừng tại VQG & Khu Dự trữ sinh quyển Việt Nam. Tạp chí Môi trường. Số chuyên đề II.
Truy cập từ: https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/
[5]. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). Phương án quản lý bền vững rừng đặc dụng, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Gia Viễn, Ninh Bình.
[6]. Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHLB Đức – BMZ (2025). Đánh giá trữ lượng tại BQL RPH Đồng Xuân, Phú Yên. Dự án SFM–GIZ, Bộ Nông nghiệp & Môi trường Việt Nam.






