Thành phần hóa học tinh dầu Màng tang (Litsea cubeba (Lour.) Pers.) phân bố tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tỉnh Nghệ An
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.6.2026.094-102Từ khóa:
Chưng cất lôi cuốn hơi nước, hóa thực vật, Màng tang, tinh dầuTóm tắt
Tinh dầu Màng tang (Litsea cubeba (Lour.) Pers.) được chiết xuất bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước từ lá và vỏ thân tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An. Hàm lượng tinh dầu được chiết tách đạt 6,30% ở lá và 3,82% ở vỏ thân (tính theo khối lượng mẫu khô), cho thấy tiềm năng lớn về khai thác tinh dầu của loài này. Phân tích thành phần tinh bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) đã nhận diện được 51 hợp chất trong tinh dầu lá (14 hợp chất có hàm lượng > 1%) và 44 hợp chất trong tinh dầu vỏ (11 chất có hàm lượng > 1%). Thành phần hóa học giữa tinh dầu lá và vỏ có sự khác biệt rõ rệt: tinh dầu lá chứa chủ yếu các monoterpene và monoterpenoid như 1,8-cineole (30,44%), sabinene (22,19%) và α-terpineol (12,14%); trong khi tinh dầu vỏ lại đặc trưng bởi hàm lượng rất cao citral (57,59%) và limonene (19,29%). Sự khác biệt thành phần hoá học của tinh dầu lá và vỏ Màng tang dẫn đến sự khác biệt về hoạt tính sinh học của hai loại tinh dầu. Các thành phần chính như 1,8-cineole, sabinene và citral đều là những hợp chất có hoạt tính sinh học cao như kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, chống viêm, khẳng định giá trị cao của tinh dầu chiết xuất từ Màng tang tại KBTTN Pù Hoạt.
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Kim Đào (2017). Thực vật chí Việt Nam - Flora of Vietnam. NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
[2]. Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Phạm Văn Hiển, Trần Toàn, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Kim Mẫn, Nguyễn Thượng Dong, Đoàn Thị Nhu, Phạm Duy Mai & Đỗ Trung Đàm (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[3]. Chu Thanh Bình, Trương Thị Chiên, Đào Ngọc Ánh & Nguyễn Hữu Thắng (2024). Thành phần hóa học và khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy của tinh dầu quả màng tang (Litsea cubeba). Hội nghị khoa học toàn quốc về công nghệ sinh học, công nghệ sinh học y dược. 1144-1150.
[4]. Nguyễn Lê Vũ, Nguyễn Thị Tuyết Trinh & Phạm Hữu Thiện (2024). Chiết xuất tinh dầu trái màng tang (Litsea cubeba) bằng phương pháp hơi nước quá nhiệt và thủy chưng. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. 32(11): 23-32.
[5]. Bighelli Ange, Muselli Alain, Casanova Joseph, Thi Tam Nguyen, Van Anh Vu & Bessière Jean-Marie (2005). Chemical Variability of Litsea cubeba Leaf Oil from Vietnam. Journal of Essential Oil Research. 17(1): 86-88.
[6]. Ngo Xuan Luong (2025). Chemical Composition and Antibacterial Activity of (Litsea cubeba (Lour.) Pers.) Essential Oil International Journal of Pharma Growth Research Review (IJPGARR). 2(5): 36-41.
[7]. Hội đồng dược điển Việt Nam (2017). Dược điển Việt Nam. NXB Y học, Hà Nội.
[8]. Peng Huang, Zhanying Gu, Ling Yang, Ruonan Yang, Yaxin Ji, Qingyang Zeng, Fangmeng Xiao & Hanyue Chen (2021). Study on optimization of extraction technique of pericarp essential oil in Litsea Cubeba (Lour) Pers. Journal of Food Measurement and Characterization. 15: 758–768.
[9]. Trần Thị Yến Nhi, Đào Tấn Phát, Trần Thị Kim Liên, Nguyễn Duy Đan, Ung Thanh Đạt, Huỳnh Bảo Long, Mai Huỳnh Cang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Ây, Huỳnh Xuân Phong & Trần Ngọc Quyển (2021). Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến các hợp chất có hoạt tính sinh học trong vỏ bưởi Da Xanh (Citrus maxima Burm. Merr.). Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. 57: 177-182.
[10]. Ou Zhao, Jian-Wei Zhou & Da-Ming Ban (2010). Analysis of volatile oil from different parts of Litsea cubeba. Journal of Chinese Medicinal Materials. 33(9): 1417-1419.
[11]. Yu-Chang Su & Chen-Lung Ho (2016). Essential Oil Compositions and Antimicrobial Activities of Various Parts of Litsea cubeba from Taiwan. Natural Product Communications. 11(4): 515-518.






