Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian ép đến một số chỉ tiêu chất lượng của vật liệu composite từ keo phenol formaldehyde phân tử lượng thấp và tre
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.2.2026.121-129Từ khóa:
Composite từ tre, độ bền cắt dọc thớ, độ bền uốn tĩnh, độ trương nở chiều dày, PF phân tử lượng thấp, tre cán dậpTóm tắt
Trong quá trình ép nhiệt tạo vật liệu composite từ tre cán dập tẩm nhựa phenol formaldehyde phân tử lượng thấp (PF PTLT), nhiệt độ ép và thời gian ép là hai thông số công nghệ then chốt, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tính chất cơ học của sản phẩm. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp thiết kế thí nghiệm đáp ứng bề mặt (Response Surface Method) với bố trí phức hợp tâm (Central Composite Design) nhằm đánh giá và định lượng ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian ép đến một số chỉ tiêu chất lượng quan trọng của vật liệu composite tre, bao gồm: độ trương nở theo chiều dày (TS), độ bền cắt dọc thớ (SS) và độ bền uốn tĩnh (MOR). Kết quả nghiên cứu cho thấy độ trương nở theo chiều dày TS biến thiên trong khoảng 1,95–4,76% và có xu hướng thay đổi phi tuyến theo các thông số công nghệ. Độ bền cắt dọc thớ SS đạt giá trị trong khoảng 16,33–20,01 MPa, trong khi độ bền uốn tĩnh MOR dao động từ 105,40 đến 165,44 MPa. Trên cơ sở mô hình hồi quy và tối ưu hóa đa mục tiêu theo hướng ưu tiên kiểm soát TS và MOR, đồng thời đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và khả năng áp dụng trong sản xuất, tổ hợp thông số công nghệ tối ưu được xác định là nhiệt độ ép 148,35°C và thời gian ép 18,26 phút. Tại điều kiện này, giá trị dự đoán của MOR đạt 146,84 MPa, TS giảm còn 3,36% và SS đạt 18,24 MPa, cho thấy sự cân bằng hợp lý giữa độ ổn định kích thước và các tính chất cơ học của vật liệu composite tre.
Tài liệu tham khảo
[1]. M. Mahdavi, P. L. Clouston, A. M. Asce & S. R. Arwade (2011). Development of Laminated Bamboo Lumber: Review of Processing, Performance, and Economical Considerations. Journal of Materials in Civil Engineering. 23(7): 1036-1042. DOI: 10.1061/(ASCE).
[2]. UMK Anwar, MT Paridah, H Hamdan, A Zaidon, A Roziela Hanim & AS Nordahlia (2012). Adhesion and bonding properties of low molecular weight phenol formaldehyde – treated plybamboo. Journal of Tropical Forest Science. 24(3): 379–386
[3]. Yahui Zhang, Wenji Yu, Namhun Kim & Yue Qi (2021). Mechanical Performance and Dimensional Stability of Bamboo Fiber-Based Composite. Polymers (Basel). 13(11): 1732. DOI: 10.3390/polym13111732
[4]. Fei Rao, Yaohui Ji, Neng Li, Yahui Zhang, Yuhe Chen & Wenji Yu (2020). Outdoor bamboo-fiber-reinforced composite: Influence of resin content on water resistance and mechanical properties. Construction and Building Materials. 261.
DOI: 10.1016/j.conbuildmat.2020.120022
[5]. Yanglun Yu, Yuxiang Huang, Yahui Zhang, Ru Liu, Fandan Meng & Wenji Yu (2018). The Reinforcing Mechanism of Mechanical Properties of Bamboo Fiber Bundle-Reinforced Composites, polymer composites. Published online in Wiley Online Library (wileyonlinelibrary.com).
[6]. UMK. Anwar, M. T. Paridah, H. Hamdan, A. Zaidon & E. S. Bakar (2006). Impregnation of bamboo (Gigantochloa scortechinii) strips with low-molecular-weight phenol formaldehyde resin. J. Bamboo and Rattan. 5(3-4): 159-165
[7]. Nguyễn Thị Phượng, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Định & Tạ Thị Thanh Hương (2023). Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ sấy của quá trình sấy đóng rắn keo đến tính chất cơ học, vật lý của sản phẩm tre ép khối. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp. 5: 128–135






