Hiện trạng và biến động quần thể Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên

Các tác giả

  • Bùi Thanh Tùng Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển (CCD)
  • Đinh Văn Nguyên Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển (CCD)
  • Nguyễn Mạnh Hà Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển (CCD)
  • Lã Quang Trung Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển (CCD)
  • Nguyễn Văn Minh Vườn quốc gia Cát Tiên
  • Phạm Ngọc Dương Vườn quốc gia Cát Tiên
  • Nguyễn Văn Cường Vườn quốc gia Cát Tiên
  • Nguyễn Thị Ngọc Thìn Vườn quốc gia Cát Tiên
  • Trần Tất Tiếp Vườn quốc gia Cát Tiên

DOI:

https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.3.2026.108-116

Từ khóa:

Bàu Sấu, bảo tồn, Cá sấu nước ngọt, giám sát, Vườn Quốc gia Cát Tiên

Tóm tắt

Nghiên cứu này trình bày kết quả giám sát quần thể Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại khu vực Bàu Sấu, Vườn Quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2021–2024, đồng thời so sánh với các dữ liệu thu thập từ khi loài được tái thả năm 2004. Công tác giám sát được thực hiện theo các tuyến cố định vào ban đêm bằng đèn pha, dựa trên đặc điểm phản xạ ánh sáng ở mắt cá sấu để phát hiện và ghi nhận cá thể. Tổng cộng sáu đợt khảo sát đã được tiến hành, ghi nhận số lượng trung bình khoảng 500 cá thể. Kết quả cho thấy số lượng cá thể quan sát được có sự dao động giữa các đợt và các năm. Tuy nhiên, những biến động này chủ yếu phản ánh sự thay đổi về xác suất phát hiện do điều kiện môi trường và yếu tố khảo sát, hơn là sự thay đổi thực sự về kích thước quần thể. Phân tích theo chuỗi thời gian cho thấy quần thể đã phục hồi rõ rệt kể từ khi tái thả 60 cá thể vào năm 2004. Đến năm 2019, quần thể tăng lên 286 cá thể; các đợt điều tra tiếp theo trong giai đoạn 2021–2025 ghi nhận số lượng tiếp tục tăng, ước tính trên 500 cá thể và hiện duy trì trạng thái tương đối ổn định. Những kết quả này khẳng định hiệu quả của các nỗ lực bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động giám sát dài hạn đối với loài nguy cấp này.

Tài liệu tham khảo

[1]. Vườn Quốc gia Cát Tiên (2021). Thuyết minh Phương án quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Cát Tiên, giai đoạn 2021-2030.

[2]. Thorbjarnarson J.B. (1992). Crocodiles: An Action Plan for their Conservation. In: H. Messel, F.W. King and J.P. Ross (eds). IUCN, Gland, Switzerland.

[3]. Baillie J. & Groombridge B. (comps and eds) (1996). 1996 IUCN Red List of Threatened Animals. IUCN, Gland, Switzerland and Cambridge, UK.

[4]. Daltry J. & Chheang D. (2000). Siamese Crocodiles discovered in the Cardamon Mountains. Crocodile Specialist Group Newsletter 19:7–8.

[5]. Kanwatanakid-Savini C., Pliosungnoen M., Pattanavibool A., Thorbjarnarson J.B., Limlikhitaksorn C. & Platt S.G. (2012). A survey to determine the conservation status of Siamese crocodiles in Kaeng Krachan National Park, Thailand. Herpetological Conservation Biology. 7(2): 157-168

[6]. Cuc H.T. (1994). Status and conservation of crocodiles in Vietnam. In: Crocodiles. The 12th Working Meeting of the IUCN-SSC Crocodile Specialist Group: pp. 28-34. IUCN, Gland, Switzerland.

[7]. Cao V.S. & Jenkins R.W.G. (1998). Crocodile conservation and development in Vietnam. In: Crocodiles. The 14th Working Meeting of the IUCN SSC Crocodile Specialist Group: pp. 135-140. IUCN, Gland, Switzerland.

[8]. Platt S.G. & Ngo Van Tri (2000). Status of the Siamese crocodile in Vietnam. Oryx. 34(3): 217-221.

[9]. Murphy D., Thuc P.D. & Long N.T. (2004). The siamese crocodile re-establishment programme in Cat Tien National Park, Vietnam.

[10]. Bembrick J. & Cannon Z. (1999). A report on the Siamese Crocodile, Crocodylus siamensis, in Cat Tien National Park. Technical Report Number 1 to WWF – Cat Tien National Park Conservation Project - Vietnam.

[11]. Platt S.G. (1999). Investigation into the Status of Crocodiles and Turtles in Vietnam and Cambodia. Trip Report – Wildlife Conservation Society. 32pp.

[12]. Chambert T., Enot G. & Khanh P. H. (2019). Monitoring of Siamese crocodiles (Crocodylus siamensis) in Bau Sau Lake, Vietnam. Cat Tien National Park, Dong Nai, Viet Nam.

[13]. Messel H., Vorlicek G. C., Wells A. G. & Green W. J. (1981). Surveys of the tidal river systems in the Northern Territory of Australia and their crocodile populations. Monograph 1. The Blyth– Cadell River systems study and the status of Crocodylus porosus in tidal waterways of northern Australia. Methods of analysis and dynamics of a population of C. porosus. (Pergamon Press: Sydney.).

[14]. Vườn Quốc gia Cát Tiên (2013). Báo cáo giám sát quần thể cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên năm 2013.

[15]. Vườn Quốc gia Cát Tiên (2014). Báo cáo giám sát quần thể cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên năm 2014.

[16]. Vườn Quốc gia Cát Tiên (2015). Báo cáo giám sát quần thể cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên năm 2015.

[17]. Vườn Quốc gia Cát Tiên (2017). Báo cáo giám sát quần thể cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên năm 2017.

[18]. Starr A., Han S. & Daltry J.C. (2010). 2010 monitoring and nest surveys reveal status and threats of community-protected Crocodylus siamensis sub-populations in Cambodia. Crocodile Specialist Group Newsletter. 29(4): 7-9.

[19]. Simpson B.K. & Han S. (2004). Siamese crocodile (Crocodylus siamensis) surveys in Cambodia. In: Crocodiles. The 17th Working Meeting of the Crocodile Specialist Group: pp. 110-120. IUCN, Gland, Switzerland.

[20]. Platt S.G., Monyrath V., Sovannara H., Kheng L. & Rainwater T.R. (2011). Nesting phenology and clutch characteristics of captive Siamese crocodiles (Crocodylus siamensis) in Cambodia. Zoo Biology. 30: 1-12.

[21]. Youngprapakorn U., Cronin E.W. & McNeely J.A. (1971). Captive breeding of crocodiles in Thailand. In: Crocodiles. The 1st Working Meeting of the IUCN-SSC Crocodile Specialist Group: pp. 98-101. IUCN, Morges, Switzerland.

[22]. Brazaitis P. & Watanabe M.E. (1983). Ultrasound scanning of Siamese crocodile eggs: Hello, are you in there? Journal of Herpetology. 17: 286-287.

Tải xuống

Đã Xuất bản

15/03/2026

Cách trích dẫn

Bùi Thanh Tùng, Đinh, N., Nguyễn, H., Lã, T., Nguyễn Văn Minh, Phạm, D., … Trần, T. (2026). Hiện trạng và biến động quần thể Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP, 15(3), 108–116. https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.3.2026.108-116

Số

Chuyên mục

Quản lý tài nguyên và Môi trường