Đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế nuôi trồng và đánh bắt thủy sản do biến đổi khí hậu tại một số xã ven biển tỉnh Hưng Yên
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.4.2026.128-137Từ khóa:
Biến đổi khí hậu, đánh bắt thủy sản, nuôi trồng thủy sản, tổn thương sinh kếTóm tắt
Nghiên cứu xây dựng 02 bộ chỉ số nhằm đánh giá tính dễ bị tổn thương (TDBTT) đối với hai loại hình sinh kế nuôi trồng thủy sản (NTTS) và đánh bắt thủy sản (ĐBTS) tại xã Thụy Xuân và xã Thụy Hải thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (nay là xã Đông Thụy Anh và xã Thái Thụy thuộc tỉnh Hưng Yên). Mỗi bộ chỉ số gồm 32 chỉ số thành phần thuộc 11 chỉ số đại điện cho 3 khía cạnh (mức phơi bày, mức nhạy cảm và khả năng thích ứng). Các chỉ số đã phản ánh những yếu tố về đặc điểm khí hậu, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, trình độ kỹ thuật và chính sách hỗ trợ liên quan đến sinh kế NTTS và ĐBTS tại khu vực nghiên cứu. Kết quả cho thấy, cả hai loại hình sinh kế NTTS và ĐBTS đều có chỉ số TDBTT ở mức trung bình. Tuy nhiên, chỉ số TDBTT sinh kế NTTS cao hơn ĐBTS (0,58 so với 0,53), phản ánh rủi ro lớn hơn trước biến động môi trường và khí hậu. Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp gồm nâng cấp cơ sở hạ tầng, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, quản lý tài nguyên và môi trường, củng cố tổ chức sản xuất, thúc đẩy chính sách tín dụng, bảo hiểm, đào tạo nghề và đa dạng sinh kế nhằm nâng cao khả năng chống chịu của các nhóm sinh kế trước biến đổi khí hậu.
Tài liệu tham khảo
[1]. IPCC (2007). Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability.
[2]. Anne M. Riederer & Stanley O. Foster Micah B.Hahn (2009). The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change – A case study in Mozambique. Global Environmental Change. 19: 74-88.
[3]. Nguyễn Quốc Nghi (2016). Đánh giá sự tổn thương do biến đổi khí hậu tác động đến sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Cà Mau. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp. 4: 133-141.
[4]. Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Trọng Quân, Lê Văn Tin, Lê Anh Toại, Trần Văn Phẩm & Trần Đình Hùng (2021). Đánh giá mức độ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu gây ra ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển tỉnh Quảng Bình. Tạp chí Khoa học Đại học Huế. 3(59): 191-200.
[5]. Nguyễn Quang Phục, Phan Diễm Trinh, Trần Công Dũng (2023). Đánh giá tác động của biển đổi khí hậu đến sinh kế của các cộng đồng dân cư ven biển huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học Đại học Huế. 132(5A): 23-40.
[6]. Nguyễn Anh Tuấn & Nguyễn Thị Bích Yên (2022). Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu cấp huyện ở vùng núi Tây Bắc việt nam: trường hợp nghiên cứu tại tỉnh Sơn La. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. 20(4): 498-509.
[7]. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết 1666/NQ-UBTVQH15, ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hưng Yên năm 2025.
[8]. Cục thống kê tỉnh Thái Bình (2021). Niên giám thống kê.
[9]. Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình (2022). Báo cáo ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2022.
[10]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Kịch bản biến đổi khí hậu.
[11]. Bich Thi Ngoc Nguyen & Mitthan Lal Kansal (2025). Mangrove Water Quality Assessment and Bio‑filtration Mechanism in the Hung Yen Mangroves, Vietnam. Water, Air, & Soil Pollution. 237(125): 1-20. DOI: 10.1007/s11270-025-08650-3.
[12]. Nguyen Hai Hoa & Tran Duy Binh (2016). Using Landsat imagery and vegetation indices differencing to detect mangrove change: a case in Thai Thuy district, Thai Binh province. Journal of Forest Science and Technology. 5: 59-66.






