Đánh giá hiệu quả mô hình làm giàu rừng bằng loài cây gỗ bản địa tại Vườn quốc gia Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Các tác giả

  • Đỗ Thị Thanh Huyền Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia
  • Tăng Thị Kim Hồng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
  • Nguyễn Thị Hải Hồng Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ
  • Lê Văn Triệu Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia
  • Vũ Cao Cường Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia
  • Lê Quang Đạo Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia

DOI:

https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.6.2026.033-042

Từ khóa:

Cây bản địa, phục hồi rừng, rừng nghèo kiệt, tỷ lệ sống, Vườn quốc gia Xuân Liên

Tóm tắt

Trồng làm giàu rừng bằng cây gỗ bản địa là giải pháp quan trọng nhằm phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt và tái lập cấu trúc thảm thực vật. Tại Vườn quốc gia (VQG) Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2021 Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia phối hợp Ban Quản lý VQG triển khai mô hình trồng làm giàu trên 19,6 ha, với 52 loài và tổng 14.707 cây. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chung của mô hình thông qua tỷ lệ sống và độ tàn che, đồng thời phân tích sinh trưởng của nhóm loài ưu tiên có đủ dữ liệu theo dõi. 15 tâm giám sát cố định được định vị bằng GPS; các chỉ tiêu được ghi nhận định kỳ gồm chiều cao cây (H), đường kính cổ rễ (Doo), tăng trưởng hàng năm chiều cao và đường kính bình quân. Kết quả cho thấy sau 4 năm, tỷ lệ sống trung bình đạt 87,3%; độ tàn che tăng từ 55% (2022) lên 72% (2024), phản ánh xu thế hình thành tầng tán mới và quá trình khép tán của lâm phần phục hồi. Trong nhóm loài ưu tiên, một số loài như Quế, Chò chỉ, Lim xanh và Sến trung thể hiện sinh trưởng vượt trội về chiều cao và/hoặc đường kính cổ rễ, góp phần tạo tán sớm và cải thiện điều kiện vi khí hậu dưới tán. Những kết quả này khẳng định tính phù hợp của cơ cấu loài và biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho các bước tiếp theo trong phục hồi rừng và quy hoạch Vườn thực vật Xuân Liên.

Tài liệu tham khảo

[1]. Rey Benayas, J. M., Newton, A. C., Diaz, A. & Bullock, J. M. (2009). Enhancement of biodiversity and ecosystem services by ecological restoration: a meta-analysis. Science. 325(5944): 4-1121.

DOI: 10.1126/science.1172460.

[2]. Lamb, D., Erskine, P. D. & Parrotta, J. A. (2005). Restoration of degraded tropical forest landscapes. Science. 310(5754): 1628-1632.

[3]. Food and Agriculture Organization of the United Nations (2018). Forest landscape restoration in drylands and semi-arid lands in FAO Forestry Paper No. 175. Food and Agriculture Organization of the United Nations.

[4]. Bảo Huy & Nguyễn Thế Hiển (2021). Hướng dẫn kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên. Buôn Mê Thuột: Tropenbos. 64.

[5]. Chazdon, R. L. (2019). Second growth: the promise of tropical forest regeneration in an age of deforestation. University of Chicago Press.

[6]. Millet, J., Tran, N., Vien Ngoc, N., Tran Thi, T. & Prat, D. (2013). Enrichment planting of native species for biodiversity conservation in a logged tree plantation in Vietnam. New Forests. 44(3): 369-383.

[7]. Holl, K. D., Reid, J. L., Chaves-Fallas, J. M., Oviedo-Brenes, F. & Zahawi, R. A. (2017). Local tropical forest restoration strategies affect tree recruitment more than area-wide factors. Journal of Applied Ecology. 54(4): 1092–1102. DOI: 10.1111/1365-2664.12809.

[8]. Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên (2021). Phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2021-2030.

[9]. Phạm Thế Quế (2002). Kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

[10]. Chính phủ (2019). Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

[11]. Chính phủ (2021). Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.

[12]. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BNNMT ngày 16/01/2026 hợp nhất Thông tư quy định về biện pháp lâm sinh.

[13]. Nguyễn Huy Sơn (2005). Nghiên cứu kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa có giá trị kinh tế cho vùng hệ sinh thái rừng vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp. 1: 3-11.

[14]. Nguyễn Anh Dũng (2009). Đánh giá tỷ lệ sống và tình hình sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn do dự án RENFODA xây dựng tại Hòa Bình. Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

[15]. Võ Đại Hải & Trần Văn Con (2009). Thực trạng và giải pháp phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp. 2: 849-857.

Tải xuống

Đã Xuất bản

15/08/2026

Cách trích dẫn

Thị Thanh Huyền, Đỗ, Thị Kim Hồng, T., Thị Hải Hồng, N., Văn Triệu, L., Cao Cường, V., & Quang Đạo, L. (2026). Đánh giá hiệu quả mô hình làm giàu rừng bằng loài cây gỗ bản địa tại Vườn quốc gia Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP, 15(6), 033–042. https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.6.2026.033-042

Số

Chuyên mục

Lâm học và Điều tra quy hoạch rừng