MÔ HÌNH PHÂN BỐ ĐƯỜNG KÍNH VÀ CHIỀU CAO CỦA QUẦN XÃ CĂM XE (Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub.) TRONG KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH HƠI ẨM NHIỆT ĐỚI TẠI BAN QUẢN LÍ RỪNG PHÒNG HỘ TÂN PHÚ THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI

Các tác giả

  • Tiến sĩ Lê Văn Long Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp tại tỉnh Đồng Nai

Từ khóa:

Quần xã Căm xe, phân bố đường kính và chiều cao, hàm phân bố đường kính, hàm phân bố chiều cao.

Tóm tắt

Bài báo này trình bày kết quả xây dựng các hàm ước lượng và dự đoán phân bố số cây theo các cấp đường kính (N/D) và chiều cao (N/H) của quần xã Căm xe trong kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các hàm thích hợp để ước lượng và dự đoán phân bố đường kính và phân bố chiều cao của quần xã Căm xe. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 5 ô tiêu chuẩn tạm thời, mỗi ô có diện tích 0,25 ha. Kết quả cho thấy phân bố N/D của các quần xã Căm xe có dạng phân bố giảm từ cấp D nhỏ đến cấp D lớn. Phân bố N/D của các quần xã Căm xe được mô tả tốt bằng hàm phân bố mũ tổng quát. Phân bố N/H của các quần xã Căm xe có dạng phân bố một đỉnh lệch phải. Phân bố N/H của các quần xã Căm xe được mô tả tốt bằng hàm phân bố Burr (1942). Trong các quần xã Căm xe, cây phân bố từ cấp D ≤ 10 cm đến D = 52 cm và từ cấp H ≤ 10 m đến H ≥ 30 m. Theo cấp D, 45% số cây tập trung ở cấp D ≤ 10 cm, 50,0% ở các cấp D = 16–40 cm và 5,0% ở các cấp D ≥ 46 cm. Theo cấp H, số cây tập trung chủ yếu ở các cấp H = 14–22 m (65%), tiếp đến là các cấp H < 14 m (21%) và H ≥ 26 m (14%). Sự có mặt ở các cấp D và các cấp H từ nhỏ đến lớn chứng tỏ quần thể Căm xe tái sinh liên tục theo thời gian. Kết quả của nghiên cứu này góp phần cung cấp các hàm thích hợp để ước lượng và dự đoán số cây phân bố theo các cấp đường kính (D) và chiều cao (H) của các quần xã Căm xe (QXCX) với độ tin cậy cao hơn.

Tài liệu tham khảo

[1] Thái Văn Trừng (1999). Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 566 trang.

[2] Nguyễn Văn Thêm (1992). Nghiên cứu tái sinh tự nhiên của cây Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai. Tóm tắt luận án Tiến sĩ chuyên ngành lâm học. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, 24 trang.

[3] Nguyễn Văn Thêm và Phạm Minh Toại (2024). Sinh thái rừng. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 415 trang.

[4] Đào Thị Thùy Dương (2017). Ảnh hưởng của những đặc tính ở tầng đất mặt đến tái sinh tự nhiên của Dầu con rái (Dipterocarpus alatus Roxb) trong rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai. Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp, Số 6/2017, Trang 25-32.

[5] Lê Văn Long, Nguyễn Minh Thanh, Lê Văn Cường, Lê Bá Toàn (2017). Một số đặc điểm lâm học của ưu hợp Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) thuộc rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp, Số 6/2017, Trang 42-50.

[6] Lê Hồng Việt, Nguyễn Hồng Hải, Trần Quang Bảo, Nguyễn Văn Tín, Lê Ngọc Hoàn (2020). Đặc điểm tái sinh tự nhiên của Sến mủ (Shorea roxburghii G. Don) dưới tán rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai. Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Số 1/2020, Trang 72-83.

[7] Lê Hồng Việt, Nguyễn Văn Thêm và Phạm Minh Toại (2022). Hàm ước lượng tỷ lệ cây họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) trong rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai. Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp, Số 2/2022, Trang 32-40. DOI.org/10.55250/jo.vnuf.2022.2.032-0401.

[8] Lê Văn Long (2019). Đặc điểm lâm học của những loại hình quần xã thực vật thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Luận án tiến sĩ Lâm nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, 261 trang.

[9] Lê Văn Long, Nguyễn Văn Thêm, Lê Hồng Việt, Đào Thị Thùy Dương, Lê Văn Cường, Dương Văn Nam (2024). Sự kết nhóm sinh thái giữa một số loài cây gỗ trong rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tạp chí KHCNLN, Tập 13, Số 6/2024, Trang 48-59. DOI.org/10.55250/jo.vnuf.13.6.2024.048-059.

[10] Nguyễn Văn Thêm, Lê Hồng Việt, Nguyễn Văn Quý, Ngô Thị Thu Thủy (2025). Những mô hình phân bố đường kính và chiều cao của rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới ở khu vực Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai.

[11] Phạm Hoàng Hộ (1999). Cây cỏ Việt Nam quyển 1, 2 và 3. Nxb Trẻ. TP. HCM, 991 trang; 951 trang; và 1020 trang.

[12] Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003). Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 873 trang.

[13] Burr, I. W. (1942). Cumulative frequency functions. Annals of Mathematical Statistics. 13 (2): 215-232. DOI:10.1214/aoms/1177731607. JSTOR 2235756.

[14] Duan, A.G., Zhang J.G., Tong S.Z (2006). Application of R-distribution to model cumulative distribution of basal area of stands in Chinese fir plantations. Journal of Beijing Forestry University, 28(3): 86–94.

Đã Xuất bản

13/04/2026

Cách trích dẫn

Lê Văn Long, T. sĩ. (2026). MÔ HÌNH PHÂN BỐ ĐƯỜNG KÍNH VÀ CHIỀU CAO CỦA QUẦN XÃ CĂM XE (Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub.) TRONG KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH HƠI ẨM NHIỆT ĐỚI TẠI BAN QUẢN LÍ RỪNG PHÒNG HỘ TÂN PHÚ THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP. Truy vấn từ https://journal.vnuf.edu.vn/vi/article/view/2108

Số

Chuyên mục

Lâm học và Điều tra quy hoạch rừng

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả