Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến sinh trưởng phát triển của cây đậu tương trong điều kiện đất nhiễm mặn
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.1.2026.003-009Từ khóa:
Cải tạo đất, cây đậu tương, chế phẩm sinh học, đất nhiễm mặn, quy trình sử dụng chế phẩmTóm tắt
Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây đậu tương trong điều kiện đất nhiễm mặn khi có bổ sung chế phẩm sinh học với liều lượng và thời điểm bón khác nhau cũng như khả năng cải tạo đất của sự kết hợp này. Sử dụng chế phẩm sinh học bón lót và thúc sớm với liều lượng 50 kg/ha/lần cho cây đậu tương giống ĐT12 trên đất bị nhiễm mặn nhân tạo bằng dung dịch NaCl tương đương độ mặn 3‰ trong điều kiện thí nghiệm chậu vại đã có tác dụng cải thiện rõ rệt khả năng sinh trưởng và phát triển của cây. Thời gian sinh trưởng được rút ngắn khoảng 5 ngày, làm tăng chiều dài bộ rễ thêm 46,15%, số lượng nốt sần hữu hiệu tăng 3,3 lần, năng suất tăng 125,35% và giảm 71,09% tỷ lệ sâu bệnh. Biện pháp này đồng thời giúp giảm độ mặn của đất 25,33%, làm tăng đáng kể hàm lượng lân, kali dễ tiêu trong đất, lần lượt là 124,47% và 114,75% và giúp hệ vi sinh vật trong đất phát triển tốt hơn. Trên cơ sở đó, quy trình sử dụng chế phẩm sinh học cho cây đậu tương trên đất mặn cũng đã được xây dựng.
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thu Hà, Phan Quốc Hưng, Nguyễn Tú Điệp & Vũ Thị Xuân Hương (2014). Nghiên cứu xác định các nguyên liệu chính để sản xuất vật liệu sinh học nhằm tái tạo thảm thực vật phủ xanh. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 6: 111-116.
[2]. Nguyễn Thị Minh, Lê Minh Nguyệt & Nguyễn Thị Khánh Huyền (2019). Phân lập và tuyển chọn nấm rễ Arbuscular mycorhizae để sản xuất vật liệu sinh học dùng tái tạo thảm thực vật trên đất dốc. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 18: 88-95.
[3]. Nguyễn Văn Sức, Bùi Quang Xuân, Nguyễn Viết Hiệp & Trần Thị Thu Anh (2008). Nghiên cứu, áp dụng kỹ thuật phát triển cộng sinh Mycorrhiza cho một số cây trồng chính tại một số vùng sinh thái phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững (2004-2007). Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
[4]. Lê Ngọc Phương, Dương Hoàng Sơn & Nguyễn Minh Đông (2018). Đánh giá tiềm năng chịu mặn của cây đậu nành (Glycine max L.) và cây điên điển (Sesbania rostrata). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam. 3(88): 68-71.
[5]. Phan Thị Thu Hiền (2022). Nghiên cứu một số đặc tính sinh lý và hiệu quả kinh tế của mô hình xen canh cây đậu tương và cây ngô trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam. 3(136): 104-110.
[6]. Vũ Ngọc Thắng, Trần Anh Tuấn, Lê Thị Tuyết Châm, Vũ Ngọc Lan & Phạm Văn Cường (2018). Ảnh hưởng của mặn đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của đậu tương (Glycine Max L. MER.). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. 16(6): 539-551.
[7]. Phạm Thị Xuân (Chủ biên), Trần Danh Sửu, Bùi Thị Thu Huyền, Trần Thị Trường, Hà Minh Loan & Dương Trung Dũng (2017). Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.






