Thành lập bản đồ cảnh quan vùng bán bình nguyên Ea Súp tỷ lệ 1:100.000
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.6.2026.066-073Từ khóa:
Bán bình nguyên Ea Súp, Bản đồ cảnh quan, Cấu trúc cảnh quan, Phân loại cảnh quanTóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm thành lập bản đồ cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 cho vùng bán bình nguyên Ea Súp, cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển nông - nghiệp bền vững. Dựa trên tiếp cận cảnh quan học, nghiên cứu đã tích hợp hệ thống bản đồ địa hình, thổ nhưỡng và thảm thực vật tỷ lệ 1:100.000 và chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn tại các trạm Chư Prông, Ea Súp, Bản Đôn, Cầu 14 và Đắk Mil. Các lớp dữ liệu không gian được xử lý, chồng xếp và phân tích bằng nền tảng phần mềm ArcGIS 10.8. Hệ thống phân loại cảnh quan được xây dựng theo 6 cấp (Hệ, Phụ hệ, Lớp, Phụ lớp, Kiểu và Loại), trong đó, cấp Loại cảnh quan là đơn vị cơ sở được xác định dựa trên sự kết hợp giữa 11 loại đất và 07 kiểu thảm thực vật hiện tại. Kết quả nghiên cứu đã xác lập được 60 loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan vùng bán bình nguyên Ea Súp tỷ lệ 1:100.000. Bản đồ phản ánh rõ cấu trúc thẳng đứng và sự phân hóa không gian của các hợp phần tự nhiên. Đây là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ đánh giá mức độ thích hợp của lãnh thổ đối với các loại hình sử dụng đất, góp phần định hướng không gian sản xuất nông - lâm nghiệp gắn với bảo vệ tài nguyên và sinh thái đặc thù vùng bán bình nguyên Ea Súp.
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Văn Chiển (chủ biên) (1986). Các vùng tự nhiên Tây Nguyên. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[2]. Nguyễn Đức Ngữ (1985). Khí hậu Tây Nguyên. Viện Khí tượng Thủy văn, Hà Nội.
[3]. Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Đình Hoè, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Huy Cường & Phùng Quang Chính. (2020). Những không gian sinh thái đặc thù dãy Trường Sơn: Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn (Tập 2). NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
[4]. Nguyễn Ngọc Ánh (2025). Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan và ý nghĩa cho định hướng phát triển bền vững vùng bán bình nguyên Ea Súp. Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường. 58: 391–404.
DOI: 10.63064/khtnmt.2025.761
[5]. Vũ Tự Lập (1976). Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[6]. Nguyễn Thành Long, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Nguyệt Anh & Lại Vĩnh Cẩm (1993). Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam. Trung tâm Địa lý Tài nguyên, Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội.
[7]. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng & Nguyễn Ngọc Khánh (1997). Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[8]. Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Cao Huần & Phạm Hoàng Hải (1996). Nghiên cứu các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (đất liền và biển). Khoa học Tự nhiên (Chuyên san Địa lý). 15 - 22.
[9]. L. S. Berg (1938). Landscape and Geographical Zones. Moscow - Leningrad.
[10]. A. G. Isachenko (1961). The landscape maps of the USSR at 1:4,000,000 and some aspects of the methodology of landscape study. Proceedings of the Fifth All-Union Conference on Landscape Science, Moscow.
[11]. D. J. B. Shaw (2007). Landscape science: A Russian geographical tradition. Annals of the Association of American Geographers. 97(1): 111 -126.






