Đánh giá phẩm chất hạt giống và khả năng nhân giống loài Chò đen (Parashorea stellata Kurz.) tại thành phố Huế
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.3.2026.018-025Từ khóa:
Chò đen, nhân giống, phẩm chất hạt giống, thành phố Huế, vườn ươm, xử lý hạt giốngTóm tắt
Chò đen (Parashorea stellata Kurz.) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) là loài quý hiếm, phân bố tự nhiên ở thành phố Huế với nhiều giá trị nên được chọn loài phục hồi rừng. Tuy nhiên, các dẫn liệu về đặc điểm nguồn giống cũng như khả năng gieo ươm còn rất hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá phẩm chất hạt giống, khả năng nhân giống cũng như các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con trong giai đoạn vườn ươm. Kết quả cho thấy, hạt giống có dạng hình gần cầu với chiều dài x rộng là 16,93 x 14,55 mm. Khối lượng 1.000 hạt đạt 2.159 ± 39,56 gam, số lượng khoảng 464 ± 8,45 hạt/kg. Độ thuần 89,70% và độ ẩm hạt đạt 36,70%. Hạt giống được bảo quản trong cát ẩm cho tỷ lệ nảy mầm 96,67% sau 5 ngày. Thời gian hạt giống nảy mầm dao động từ 2 - 3 ngày, kéo dài 12 ngày và tập trung vào ngày thứ 6 - 7. Tỷ lệ nảy mầm đạt 92,2 ± 0,87% ở nhiệt độ nước 350C, ngâm trong 4 giờ. Thế nảy mầm có xu hướng tăng dần khi thời gian ngâm giảm dần, nhiệt độ nước thấp dần, đạt 57,8 - 63,3%. Biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con cần che sáng 50%, sử dụng hỗn hợp ruột bầu là 78% đất rừng tầng mặt + 20% phân chuồng hoai + 2% supe lân cho kết quả về tỷ lệ sống, sinh trưởng, phẩm chất cây giống xuất vườn là tốt nhất. Kết quả này có ý nghĩa về khoa học, thực tiễn trong sản xuất cây giống và phát triển loài Chò đen tại thành phố Huế, khu vực miền Trung Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1]. Hoang Van Sam & Xia N. (2019). Taxonomy and distribution of Parashorea (Dipterocarpaceae) in Vietnam. Bioscience Discovery. 10(2): 46-52.
[2]. Lê Thái Hùng, Ngô Tùng Đức, Trần Nam Thắng & Đinh Tiến Tài (2019). Đặc điểm thành phần loài và chỉ số đa dạng sinh học của thực vật thân gỗ ưu hợp cây họ Dầu thuộc rừng kín thường xanh ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp (2588-1256). 1(4): 1776-1786.
[3]. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005). Cây họ Dầu Việt Nam. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội.
[4]. Phạm Thị Kim Thoa, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thị Ly Na, Nguyễn Hữu Đăng & Nguyễn Thị Thu Hằng (2024). Tuyển chọn một số loài thực vật bản địa đặc trưng đáp ứng tiêu chí cây xanh đô thị, có khả năng di thực trồng đường phố và công viên tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 7: 93-100.
[5]. Trần Văn Thụy, Đoàn Hoàng Giang, Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Thu Hà & Nguyễn Minh Quốc (2016). Nghiên cứu diễn thế thảm thực vật vùng Mã Đà (tỉnh Bình Phước, Đồng Nai) và định hướng phục hồi. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường. 32(1S): 377-383.
[6]. Jersam C. Calago & Annie G. Diol (2022). Population Structure and Spatial Pattern of Critically Endangered Dipterocarpaceae Tree Species in Mt. Malindang Range Natural Park, Mindanao, Philippines. Scientific Research Publishing. 12: 407-433.
[7]. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (2023). Danh lục Đỏ Việt Nam. Hà Nội.
[8]. Nguyễn Hợi, Lê Thái Hùng & Hồ Đăng Nguyên (2022). Đánh giá phẩm chất hạt giống và khả năng nhân giống hữu tính loài Táu duyên hải (Vatica mangachapoi Blanco subsp. obtosifolia (Elmer) P.S. Ashton) tại Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế. 6(2): 3075-3083.
[9]. Cao Thị Thu Hiền, Trần Ngọc Hải, Phạm Thanh Hà & Hoàng Việt Dũng (2025). Ảnh hưởng của ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng cây con Kiền kiền phú quốc (Hopea pierrei Hance.) trong giai đoạn vườn ươm. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp. 14(7): 53-59.
DOI: 10.55250/Jo.vnuf.14.7.2025.053-059






