Đặc điểm biến dị và khả năng di truyền của các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây của các dòng vô tính Keo lai tại Ba Vì, Hà Nội và Cam Lộ, Quảng Trị
DOI:
https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.4.2026.040-049Từ khóa:
Biến dị hệ số di truyền, dòng vô tính, Keo lai, tương tác kiểu gen hoàn cảnhTóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định được các đặc điểm biến dị về sinh trưởng và chất lượng thân cây của các dòng vô tính Keo lai để phát triển trồng rừng sản xuất cung cấp gỗ lớn. Nghiên cứu được tiến hành tại 2 địa điểm là Ba Vì (Hà Nội) và Cam Lộ (Quảng Trị). Kết quả cho thấy, có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng thân cây giữa các dòng vô tính Keo lai ở cả hai khảo nghiệm nghiên cứu (Fpr<0,001). Tại Ba Vì (Hà Nội) ở giai đoạn tuổi 6, 3 dòng sinh trưởng tốt nhất là BV102, BV340 và BV333 có thể tích thân cây từ 106,2 đến 121,7 dm3, vượt từ 21,0 đến 38,0% so với giống đối chứng BV16. Tại Cam Lộ (Quảng Trị) ở giai đoạn tuổi 7 các dòng có sinh trưởng tốt nhất (BV110, BV567, BV340, BV128, BV102, BV033) có thể tích thân cây từ 200,0 đến 241,0 dm3, vượt từ 67,0 đến 100,0% so với giống BV32. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng cho các tính trạng ở 2 khảo nghiệm tại Ba Vì (Hà Nội) và Cam Lộ (Quảng Trị) là tương đối giống nhau ở mức thấp đến trung bình. Từ kết quả đánh giá sinh trưởng, chất lượng thân cây và tỷ lệ sống, đã chọn lọc được các dòng vô tính có triển vọng gồm (1) tại Ba Vì: 3 dòng BV102, BV340 và BV333 đạt năng suất từ 22,7 đến 26,0 m3/ha/năm; tại Cam Lộ: 4 dòng BV110, BV340, BV102 và BV033 đạt năng suất từ 28,1 đến 39,5 m3/ha/năm. Các kết quả này cho thấy, khả năng cải thiện các dòng vô tính Keo lai thông qua chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính là hoàn toàn khả thi.
Tài liệu tham khảo
[1]. Healey M. A., Warman R., Mohammed C. & Lawson S. A. (2022). Acacia and eucalypt plantation biosecurity in Southeast Asia – a history, and directions for future research and engagement. Australian Forestry. 85(4): 146–160. DOI: 10.1080/00049158.2022.2145721.
[2]. Rufeld, C.W. (1987). Quantitative comparison of Acacia mangium Willd. versus hybrid of Acacia auriculiformis. Sabah Forest Research Centre, Sandakan, Malaysia.
[3]. Lê Đình Khả (1999). Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
[4]. Lê Đình Khả (2001). Báo cáo tổng kết đề tài "Chọn giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu" giai đoạn 1996-2000. Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng.
[5]. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2022). Giới thiệu các giống cây trồng lâm nghiệp và tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận giai đoạn 2000 - 2021. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
[6]. Lambeth C., Endo M. & Wright J. (1994). Genetic Analysis of 16 Clonal Trials of Eucalyptus grandis and Comparisons with Seedling Checks. Forest Sciences 40(3): 397 – 411. DOI: 10.1093/ forestscience/40.3.397
[7]. Cornelius J. (1994). Heritabilities and additive genetic coefficients of variation in forest trees. Canadian Journal of Forest Research. 24: 372-379. DOI: 10.1139/x94-050.7.






