Một số đặc điểm lâm học loài Miên mộc (Magnolia duperreana Pierre) tại tỉnh Lâm Đồng

Các tác giả

  • Cao Thị Việt Nga Trường Đại học Lâm nghiệp
  • Nguyễn Hồng Hải Trường Đại học Lâm nghiệp
  • Vũ Quang Nam Trường Đại học Lâm nghiệp

DOI:

https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.4.2026.069-075

Từ khóa:

Hình thái, Lâm Đồng, Miên mộc, tổ thành rừng, vật hậu

Tóm tắt

Miên mộc (Magnolia duppereana Pierre) họ Ngọc Lan (Magnoliaceae), là cây gỗ thường xanh, đơn tính khác gốc; phân bố ở Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam, các tài liệu từ trước tới nay mới chỉ đề cập đến phân bố của loài tại Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu này đã xác định được 01 quần thể Miên mộc tại Dốc B40, thuộc xã Bảo Lâm 4 tỉnh Lâm Đồng, thuộc địa phận Công ty TNHH một thành viên Lộc Bắc quản lý. Loài phân bố ở độ cao từ 840 - 1040 m so với mực nước biển; có chiều cao từ 4 - 14 m (trung bình 8,82 m), đường kính từ 2,5 - 17 cm (trung bình 9,14 cm); nụ hoa hình thành tháng 7- 8 và quả chín, hạt già vào tháng 12 - 01 năm sau. Dẻ gié trắng, Dẻ lem, Dẻ bốp, Bời lời dao và Thoa, Bộp rehder, Dẻ lá lớn, Thị tuyến lần lượt là các loài tham gia vào công thức tổ thành tầng cây cao và tái sinh ở đai cao dưới 1000 m; Dẻ lem, Dẻ bốp, Dẻ gié trắng, Thông nhựa, Mại liễu lông và Dẻ lem, Miên mộc, Trâm trắng, Thoa lần lượt là các loài tham gia trong công thức tổ thành ở đai trên 1.000 m, Miên mộc có quan hệ gắn bó với Dẻ gié trắng, Dẻ lem, Dẻ bốp, Bời lời dao. Đây là thông tin quan trọng phục vụ cho các nghiên cứu nhằm bảo tồn loài và phục hồi rừng, trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

[1]. Louis Pierre (1879). Flore forestière de la Cochinchine. Flore forestière de la Cochinchine. Octave Doin (Paris).

[2]. F Gagnepain (1938). Magnoliacees. In P.H. Humbert (ed.), Fl. Indo-Chine, Suppl. 1. Masson & Cie, Paris. 29-59.[3]. T.B. Nguyen (2003). Checklist of Plant Species of Vietnam: Angiosperm. Agricultural Publishing House, Hanoi. II: 7-16.

[4]. H.H. Pham (1991). An Illustrated Flora of Vietnam. Youth Publishing House, HCM. I: 282-297.

[5]. Thái Văn Trừng (1999). Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp khu vực: thảm thực vật rừng Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật.

[6]. Phạm Hoàng Hộ (1999). Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3. NXB Trẻ.

[7]. Hans Nooteboom & P Chalermglin (2002). A new species of Magnolia (Magnoliaceae) from Thailand. Blumea: Biodiversity, Evolution and Biogeography of Plants. 47(3): 541-543.

[8]. Yan-Yan Zhang, Kun-Lin Wu, Jian-Xia Zhang, Ru-Fang Deng, Jun Duan, Jaime A Teixeira da Silva, Wei-Chang Huang & Song-Jun Zeng (2015). Embryo development in association with asymbiotic seed germination in vitro of Paphiopedilum armeniacum SC Chen et FY Liu. Scientific reports. 5(1): 16356.

[9]. Vu Quang Nam (2004). The IUCN red list of threatened species. 12.

[10]. Nguyễn Nghĩa Thìn (2008). Các phương pháp nghiên cứu thực vật. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

[11]. Thorvald Sorensen (1948). A method of establishing groups of equal amplitude in plant sociology based on similarity of species content and its application to analyses of the vegetation on Danish commons. Biologiske skrifter. 5: 1-34.

[12]. Louis Pierre (1907). Flore forestière de la Cochinchine. Flore forestière de la Cochinchine.

[13]. Hans Peter Nooteboom & Piya CHaLerMGLin (2009). The Magnoliaceae of Thailand. Thai Forest Bulletin (Botany). 37: 111-138.

Tải xuống

Đã Xuất bản

15/04/2026

Cách trích dẫn

Cao Thị Việt Nga, Nguyễn Hồng Hải, & Vũ Quang Nam. (2026). Một số đặc điểm lâm học loài Miên mộc (Magnolia duperreana Pierre) tại tỉnh Lâm Đồng . TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP, 15(4), 069–075. https://doi.org/10.55250/Jo.vnuf.15.4.2026.069-075

Số

Chuyên mục

Lâm học và Điều tra quy hoạch rừng